PMI Việt Nam tháng 12/2020 – Chỉ số quản lý mua hàng sản xuất

Sản lượng tái tăng trưởng vào tháng 12.

  • Số lượng đơn đặt hàng mới tăng mạnh dẫn đến tăng sản lượng.
  • Thời gian giao hàng của nhà cung cấp kéo dài rõ rệt.
  • Chi phí đầu vào tăng nhanh nhất kể từ tháng 6/2018.

Cimigo đã thu thập chỉ số PMI – Tức là chỉ số quản lý mua hàng sản xuất tại Việt Nam từ năm 2013. Chỉ số PMI Việt Nam được IHS Markit tổng hợp từ các câu trả lời cho đến các bảng câu hỏi hàng tháng được gửi đến các nhà quản lý mua hàng trong một hội đồng gồm khoảng 400 nhà sản xuất.

Tải báo cáo tại đây

Vietnam Purchasing Managers Index (PMI) December 2020

Phát hiện về PMI của Việt Nam

Nhóm ngành sản xuất của Việt Nam kết thúc năm 2020 với sự tăng trưởng do các điều kiện kinh doanh được cải thiện, ngay sau sự gián đoạn do một loạt các biến động vào tháng 11. Sản lượng, đơn đặt hàng mới và việc làm đều tăng, trong khi các công ty đều tự tin vào triển vọng sản xuất 12 tháng của mình.

Tuy nhiên, sự gia tăng trong gián đoạn chuỗi cung ứng là điều hiển nhiên, làm tăng tốc độ lạm phát của cả chi phí đầu vào và giá đầu ra. Chỉ số quản lý mua hàng của Việt Nam ™ (PMI®) đã tăng lên 51,7 trong tháng 12, tăng từ 49,9 trong tháng 11 và quay trở lại mức tương đương với mức đã thấy trong tháng 10.

Con số mới nhất cho thấy sự cải thiện khiêm tốn về điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất của Việt Nam, lần thứ ba trong bốn tháng qua. Dữ liệu báo hiệu cho thấy sự tái tăng trưởng của sản lượng sản xuất, khi chúng đã được phục hồi sau các gián đoạn bởi biến động trong tháng trước. Sự gia tăng đơn hàng mới chính là trọng tâm để mở rộng sản xuất.

Hoạt động kinh doanh mới đã tăng liên tiếp trong tháng thứ tư với tốc độ vững chắc, nhanh hơn so với tháng 11. Cải thiện nhu cầu của khách hàng đã được báo cáo bởi các tham luận viên. Nhu cầu cũng tăng lên ở trên thị trường quốc tế. Đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng lần đầu tiên sau ba tháng. Các đơn đặt hàng mới cao hơn đáp ứng được yêu cầu sản xuất cũng đang tăng, do đó khuyến khích các công ty mở rộng quy mô nhân viên của mình.

Tháng 12 chứng kiến ​​tỷ lệ việc làm tăng khiêm tốn lần thứ hai trong ba tháng. Sản lượng tăng và lực lượng lao động cũng vậy, điều đó có nghĩa là các công ty có thể giảm lượng công việc tồn đọng ở mức độ lớn nhất kể từ tháng 8. Phù hợp với bức tranh về sản lượng và việc làm, hoạt động mua hàng cũng đã tăng trưởng trở lại vào tháng 12.

Tuy nhiên, khó khăn trong việc đảm bảo đầu vào và chi phí gia tăng là nét nổi bật của cuộc khảo sát mới nhất. Nguồn cung thiếu hụt, gián đoạn do đại dịch virus coronavirus 2019 (COVID-19) và các vấn đề đặc biệt khi nhập khẩu nguyên liệu, nó có nghĩa là thời gian giao hàng của các nhà cung cấp bị kéo dài rõ rệt. Trên thực tế, thời gian sản xuất đã tăng đến mức lớn nhất kể từ đỉnh điểm của đại dịch vào tháng Tư. Những thách thức này trong việc đảm bảo nguồn nguyên liệu đã góp phần khiến giá đầu vào tăng mạnh. Hơn nữa, tỷ lệ lạm phát chi phí đầu vào tăng cực kỳ nhanh trong tháng thứ tư liên tiếp và là mức nhanh nhất trong hai năm rưỡi.

Giá đầu ra cũng tăng với tốc độ nhanh hơn trong tháng 12, mặc dù vẫn yếu hơn nhiều so với chi phí đầu vào. Mức tăng phí là cao nhất kể từ tháng 7 năm 2018. Mặc dù gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nguyên liệu, các nhà sản xuất Việt Nam vẫn có thể đạt được mức tăng nhẹ trong kho hàng mua. Mặt khác, tồn kho thành phẩm giảm do các công ty sử dụng hàng tồn kho để thực hiện các đơn đặt hàng mới.

Vietnam PMI

Các nhà sản xuất vẫn tự tin rằng sản lượng sẽ tăng trong năm tới, những người được hỏi kỳ vọng sẽ ít gặp phải sự gián đoạn hơn kể từ đại dịch COVID-19. Các báo cáo cho rằng điều này đặc biệt đúng với nhu cầu xuất khẩu, vốn bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong năm 2020.

Hướng tiếp cận

IHS Markit Vietnam Manufacturing PMI® do IHS Markit biên soạn từ các câu trả lời cho đến bảng câu hỏi hàng tháng được gửi đến các nhà quản lý mua hàng trong một nhóm gồm khoảng 400 nhà sản xuất. Bảng được phân theo từng khu vực chi tiết và quy mô lực lượng lao động của công ty, dựa trên đóng góp vào GDP.

Các câu trả lời khảo sát được Cimigo Việt Nam thu thập vào nửa cuối mỗi tháng thể hiện hướng thay đổi so với tháng trước. Chỉ số khuếch tán được tính toán cho mỗi biến khảo sát. Chỉ số này là tổng của phần trăm của phản hồi “cao hơn” và một nửa phần trăm của phản hồi “không thay đổi”.

Các chỉ số dao động từ 0 đến 100, với con số trên 50 cho thấy mức tăng tổng thể so với tháng trước và dưới 50 là mức giảm tổng thể. Các chỉ số sau đó được điều chỉnh theo mỗi mùa.