Chỉ số PMI của Việt Nam – tháng 5/2021

Tăng trưởng sản lượng ở mức thấp nhất trong ba tháng trong bối cảnh bùng phát COVID-19

  • Các đơn đặt hàng mới tiếp tục tăng nhưng với tốc độ chậm hơn.
  • Lượng công việc tồn đọng tăng gần kỷ lục.
  • Lạm phát giá đầu ra cao nhất trong hơn một thập kỷ.

Công ty nghiên cứu thị trường Cimigo đã thu thập chỉ số PMI – quản lý mua hàng sản xuất tại Việt Nam từ năm 2013. Chỉ số PMI Việt Nam được IHS Markit tổng hợp từ các câu trả lời hàng tháng được gửi đến các nhà quản lý mua hàng trong một hội đồng gồm khoảng 400 nhà sản xuất.

Tải báo cáo tại đây

Những phát hiện về PMI của Việt NamVietnam Purchasing Managers Index (PMI) May 2021

Có những dấu hiệu cho thấy đợt bùng phát nhiễm COVID-19 mới nhất ở Việt Nam đã cản trở tăng trưởng trong lĩnh vực sản xuất trong tháng Năm. Tỷ lệ mở rộng sản lượng, đơn đặt hàng mới và việc làm đều giảm so với tháng trước, trong khi các công ty báo hiệu khó khăn trong việc hoàn thành đơn đặt hàng và đảm bảo nguyên liệu.

Chi phí đầu vào tiếp tục tăng mạnh do lạm phát giá bán cao nhất trong hơn một thập kỷ qua. Chỉ số Quản Lý Mua hàng Sản xuất Việt Nam ™ (PMI®) đạt 53,1 trong tháng Năm, giảm so với 54,7 trong tháng Tư. Kết quả mới nhất báo hiệu sự cải thiện lần thứ sáu liên tiếp đối với các điều kiện kinh doanh và những cái vẫn vững chắc mặc dù đã suy yếu so với tháng trước.

Dữ liệu mới nhất và bằng chứng giai thoại từ những người trả lời phỏng vấn cho thấy sự bùng phát gần đây của đại dịch COVID-19, đã hạn chế tăng trưởng cả sản lượng và đơn đặt hàng mới vào giữa quý II của năm. Tốc độ mở rộng sản xuất giảm xuống mức thấp nhất trong ba tháng nhưng vẫn vững chắc do các đơn đặt hàng mới tiếp tục tăng. Điều này cũng tương tự đối với các hoạt động kinh doanh mới, chúng tăng với tốc độ nhẹ nhất kể từ tháng Hai nhưng đã hoạt động được 9 tháng.

Tăng trưởng vững chắc cũng được ghi nhận đối với hoạt động kinh doanh mới từ nước ngoài khi một số thị trường xuất khẩu có dấu hiệu phục hồi sau đại dịch COVID-19. Con số gia tăng cũng tác động đến việc tuyển dụng trong lĩnh vực sản xuất của Việt Nam. Việc làm đã tăng trong tháng thứ tư liên tiếp, nhưng chỉ ở mức khiêm tốn. Tình trạng thiếu nhân viên góp phần khiến lượng công việc tồn đọng tăng gần kỷ lục khi các công ty phải vật lộn để đối phó với lượng đơn đặt hàng mới. Các khoản chưa thanh toán được tích lũy ở mức độ lớn nhất trong hơn một thập kỷ.

Hoạt động cũng bị cản trở do thời gian giao hàng của các nhà cung cấp bị kéo dài rõ rệt, thời gian giao hàng lâu nhất chỉ trong hơn một năm. Một lần nữa, đại dịch là một yếu tố dẫn đến thời gian vận chuyển lâu hơn, với sự chậm trễ trong vận chuyển và tình trạng thiếu nguyên liệu cũng được nhấn mạnh. Bất chấp sự chậm trễ trong việc giao hàng, các công ty đã mở rộng cả số lượng và lượng hàng mua trong bối cảnh nỗ lực xây dựng dự trữ. Điều đó cho thấy, trong cả hai trường hợp, tốc độ tăng đều chậm hơn so với tháng Tư.Vietnam May 2021 Purchasing Managers Index (PMI) Trend

 

Trong khi đó, thành phẩm tồn kho hầu như không thay đổi trong bối cảnh sử dụng hàng tồn kho để đáp ứng các đơn đặt hàng mới trong khi khối lượng sản xuất bị hạn chế. Sự ổn định này đã chấm dứt chuỗi ba tháng tăng cao của các kho hàng thành phẩm. Tỷ lệ lạm phát chi phí đầu vào tăng nhanh lên mức cao nhất trong 40 tháng vào tháng Năm. Sự thiếu hụt nguồn cung đã góp phần làm tăng giá nguyên vật liệu, đặc biệt là sắt, dầu và thép làm tăng giá thành. Giá hàng hóa cao hơn cũng đã được báo hiệu. Đổi lại, các nhà sản xuất đã tăng giá bán của chính họ với một tốc độ đáng kể. Hơn nữa, tỷ lệ lạm phát là nhanh nhất chỉ trong hơn một thập kỷ, và là mức cao thứ ba kể từ khi cuộc khảo sát bắt đầu.

Tâm lý kinh doanh giảm xuống mức thấp nhất trong ba tháng do lo lắng về sự bùng phát COVID-19, nhưng các công ty nhìn chung vẫn lạc quan rằng sản lượng sẽ tăng trong năm tới. Họ hy vọng rằng virus sẽ được kiểm soát trở lại và tin tưởng vào triển vọng tăng trưởng đơn đặt hàng mới.

Phương thức tiếp cận

IHS Markit Vietnam Manufacturing PMI® được IHS Markit biên soạn từ các câu trả lời hàng tháng được gửi đến các nhà quản lý mua hàng trong một hội đồng gồm khoảng 400 nhà sản xuất. Panel được phân tầng theo từng phân khúc chi tiết và quy mô lực lượng lao động của công ty, dựa trên đóng góp vào GDP.

Các câu trả lời khảo sát được Cimigo Việt Nam thu thập vào nửa cuối mỗi tháng và nêu ra hướng thay đổi so với tháng trước. Chỉ số khuếch tán được tính toán cho mỗi biến khảo sát. Chỉ số là tổng phần trăm phản hồi “cao hơn” và một nửa phần trăm phản hồi “không thay đổi”.

Các chỉ số thay đổi từ 0 đến 100, với con số trên 50 cho thấy mức tăng tổng thể so với tháng trước và dưới 50 là mức giảm tổng thể. Các chỉ số sau đó được điều chỉnh theo mùa